Giáo trình Bố cục 1

Hội họa diễn tả không gian ba chiều trên mặt phẳng hai chiều. Nói như vậy không có nghĩa là không gian ước lệ của hội họa phương đông, không tả chiều sâu khối tích thì không gọi là hội họa mà ở đây là do những quan niệm tạo hình khác nhau. Với người Phương Tây thì thiên nhiều về “Tả”, là tả thực. Điều này thấy rất rõ trong lịch sử Mỹ thuật Phương Tây. Còn với hội họa Phương Đông lại với quan niệm “Gợi” chứ không “Tả”, và là Gợi cái gì? Đó là gợi cái thần, cái hồn, cái tình trong tranh. Vậy nên nhìn vào một tác phẩm hội họa Phương đông không thể lấy tiêu chí của hội họa Phương tây để nhận xét, không phải để xem họa sỹ tả khối, tả chất, tả ánh sáng, không gian hay tả màu sắc như thế nào mà ở đó nó thuần túy về tinh thần, là vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan của họa gia lồng trong đó. Hai quan điểm về nghệ thuật không giống nhau dẫn đến cách xây dựng tác phẩm hội họa cũng khác nhau bởi vì thế xây dựng một bố cục cũng không giống nhau. Với hội họa Phương tây từ ký họa, phác thảo đến xây dựng hoàn thiện tác phẩm là một trật tự nhất định, nhưng đối với họa gia Trung Quốc, Nhật Bản không cần phải như vậy. Sự tích luỹ sẽ tạo điều kiện cho sáng tạo bố cục mà không cần phác thảo. Nó vẫn là một quá trình làm việc từ tiệm tiến đến đột biến và thông qua thị giác trực tiếp. Đó là cách nghiên cứu của Từ Bi Hồng khi vẽ ngựa.

doc 30 trang kimcuc 4140
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Bố cục 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giáo trình Bố cục 1

Giáo trình Bố cục 1
MỤC LỤC
BỐ CỤC 1
1. TÊN HỌC PHẦN: BỐ CỤC 1 ( 5T lý thuyết + 145T bài tập nghiên cứu )
2. SỐ TÍN CHỈ : 02 
3. TRÌNH ĐỘ: Đại học sư phạm mỹ thuật 
MỞ ĐẦU
Bố cục là một môn học tổng hợp và nâng cao trong chương trình đào tạo sinh viên mỹ thuật, nhằm rèn luyện khả năng cảm thụ và phát triển tư duy nghệ thuật, sáng tạo ra cái đẹp nghệ thuật hội họa qua đó trở lại tác động tới các môn học khác trong đào tạo mỹ thuật. Như vậy môn học bố cục rất quan trọng đối với người học mỹ thuật. Mỗi năm học có những yêu cầu cụ thể về từng trình độ khác nhau. Trong học phần bố cục 1 giúp các em bắt đầu làm quen với môn học hiểu được thế nào là bố cục trong hội họa, những điều cơ bản nhÊt của việc xây dựng được một bức tranh bố cục và tập làm quen với những bài tập thực hành đơn giản, sử dụng chất liệu bột màu.
Mục tiêu:
	- Kiến thức: Nắm được những kiến thức cơ bản của Bố cục tranh
	- Kỹ năng: Vẽ được một số tranh với những đề tài gần gũi cuộc sống của sinh viên, có thể dạy tốt môn vẽ tranh ở các bậc học: Đại học, Cao đẳng, THCN, THCS và Tiểu học
	- Thái độ: Hiểu và nâng cao vẻ đẹp của Hiện thực, thấy được giá trị của tác phẩm Hội họa trong đời sống
Điều cần biết trước:
	- Để thực hiện tốt bài tập này, người học cần biết và nắm vững các kiến thức cơ bản về màu sắc trong các bài học Trang trí.
	-Biết vận dụng các kiển thức từ những bài học môn hình họa đậm, nhạt, tương quan giữa các yếu tố tạo hình
	- Nắm được kiến thức về Luật xa gần, Giải phẫu tạo hình
- Biết cách ghi chép lấy tư liệu phục vụ học tập bộ môn 
NỘI DUNG:
1. Khái niệm:
	Trong các loại hình nghệ thuật, Hội hoạ là loại hình nghệ thuật thị giác, nó mang tính tạo hình trực tiếp thông qua các yếu tố hình khối, màu sắc, đường nét, nhịp điệu. Hội họa còn là một loại hình nghệ thuật không gian, nó tái tạo không gian ba chiều trên mặt phẳng hai chiều theo kiểu phương Tây hoặc là không gian ước lệ theo tạo hình phương Đông. Để vẽ được một bức tranh mang giá trị nghệ thuật đòi hỏi người học phải nắm được những cơ sở khoa học đó của hội họa, trong đó bố cục là một môn học không thể thiếu của sáng tác hội họa. Bố cục chính là phương pháp tự rèn luyện bằng nhận thức và thực hành, của học sinh- sinh viên mỹ thuật. Có thể nói, bố cục là phương pháp tìm tòi, xác định một hình thức biểu đạt thích hợp cho một nội dung tranh có trong ý đồ của người vẽ. Quá trình này vừa là quá trình làm việc vừa là quá trình nghiên cứu thể nghiệm và sáng tạo.
	Khái quát hơn nữa, bố cục là phương pháp làm việc mang tính chiến lược, trước khi đi vào diễn tả hoàn chỉnh, nhằm xác định hình thức biểu đạt hữu hiệu nhất cho việc xây dựng một hình tượng nghệ thuật- một nội dung. bằng ngôn ngữ của nghệ thuật hội họa như: Đường nét, hình mảng, màu sắc, đậm, nhạt, chất cảm...Người nghệ sĩ bằng những năng lực sáng tạo của mình đã tái tạo hiện thực khách quan trên tác phẩm nghệ thuật. Như vậy Bố cục là dùng ngôn ngữ của hội họa như hình mảng, đường nét, đậm nhạt, màu s¾c, chất cảm để sắp xếp trên một mặt phẳng, trong một khuôn khổ nhất định về một nội dung, chủ đề mà người vẽ cần thể hiện. Bố cục là sự sắp xếp, sắp đặt các yếu tố của nghệ thuật tạo hình sao cho hợp lý và đẹp mắt.
	Nói cách khác, bố cục là phương pháp rèn luyện cả bằng nhận thức và trong thực hành của sinh viên mỹ thuật là phương pháp làm việc tổng hòa các yếu tố như đường nét, hình thể, đậm nhạt, màu sắc, chất cảm,tìm ra một giải pháp tối ưu cho bức tranh. Bố cục còn gọi là sự tìm tòi, xác định một hình thức biểu đạt thích hợp nhất cho một nội dung tranh có trong ý tưởng của tác giả. Quá trình này vừa là quá trình làm việc, vừa là quá trình nghiên cứu, thể nghiệm và sáng tạo.
	Bố cục còn được hiểu là sự sắp xếp các ngôn ngữ tạo hình bao gồm: Đường nét, màu sắc, hình khối theo một trật tự logíc được tạo trên không gian, mặt phẳng. Tuỳ thuôc vào mỗi loại hình Nghệ thuật mà có những cách thức bố cục khác nhau.
 Hội họa diễn tả không gian ba chiều trên mặt phẳng hai chiều. Nói như vậy không có nghĩa là không gian ước lệ của hội họa phương đông, không tả chiều sâu khối tích thì không gọi là hội họa mà ở đây là do những quan niệm tạo hình khác nhau. Với người Phương Tây thì thiên nhiều về “Tả”, là tả thực. Điều này thấy rất rõ trong lịch sử Mỹ thuật Phương Tây. Còn với hội họa Phương Đông lại với quan niệm “Gợi” chứ không “Tả”, và là Gợi cái gì? Đó là gợi cái thần, cái hồn, cái tình trong tranh. Vậy nên nhìn vào một tác phẩm hội họa Phương đông không thể lấy tiêu chí của hội họa Phương tây để nhận xét, không phải để xem họa sỹ tả khối, tả chất, tả ánh sáng, không gian hay tả màu sắc như thế nào mà ở đó nó thuần túy về tinh thần, là vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan của họa gia lồng trong đó.. Hai quan điểm về nghệ thuật không giống nhau dẫn đến cách xây dựng tác phẩm hội họa cũng khác nhau bởi vì thế xây dựng một bố cục cũng không giống nhau. Với hội họa Phương tây từ ký họa, phác thảo đến xây dựng hoàn thiện tác phẩm là một trật tự nhất định, nhưng đối với họa gia Trung Quốc, Nhật Bản không cần phải như vậy. Sự tích luỹ sẽ tạo điều kiện cho sáng tạo bố cục mà không cần phác thảo. Nó vẫn là một quá trình làm việc từ tiệm tiến đến đột biến và thông qua thị giác trực tiếp. Đó là cách nghiên cứu của Từ Bi Hồng khi vẽ ngựa. 
Tranh ngựa của Từ Bi Hồng
2. Những yếu tố cơ bản trong bố cục tranh
	2.1. Ý tưởng
Người vẽ vốn có thị giác nhạy cảm, không phải đối với những thông tin thông báo mà chủ yếu là những thông tin thẩm mỹ, tức là cái đẹp. Do thị giác đem lại và có những kích thích, những rung động hay còn gọi là những cảm hứng, nhạy bén với thông tin thẩm mỹ và nhẹ hơn với thông tin lý trí. Nói cho đúng thì bất kỳ ở đâu, lúc nào, đối với người vẽ cũng có thể phát hiện những ý vị hài hòa của thiên nhiên và cuộc sống từ đó nảy sinh trong họ nguồn hứng khởi trực tiếp với đối tượng ghi nhận được. Nhờ tiếp xúc nhiều lần những thứ đó nguồn cảm hứng sẽ đi vào trí nhớ. Từ những kích thích ban đầu của thị giác và những cảm hứng, họ có nhiều diễn biến tâm lý khác nhau do cá tính, do có liên tưởng họ sẽ có mong muốn được tái hiện bằng các yếu tố tạo hình hoặc ở hình nét, màu sắc hoặc ở ánh sáng, không gian hay ở nhịp điệu cấu trúc  ý đồ để nảy sinh nguồn hứng khởi là những điều vô cùng phong phú đa dạng, nhưng chắc chắn rằng, người ta đã chấp nhận những khó khăn và trăn trở. Chúng ta biết có rất nhiều bố cục đã được hình thành rất mau lẹ trong những giây phút nổi hứng của người họa sĩ .Trong sáng tạo nghệ thuật ở bất cứ loại hình nào, sự cảm nhận trước thiên nhiên, cuộc sống và con người là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của tác phẩm. Thông qua các giác quan, người ta cảm nhận được thế giới bên ngoài. Sự cảm nhận này tác động vào con người từ thiên nhiên, cuộc sống và xã hội. Nó được bắt nguồn từ một cảm xúc hoặc từ một kích thích nào đó. Có nó cũng xuất phát từ một câu chuyện, một giai thoại, tình huống có sẵn hay từ sự vận dụng có sẵn, suy nghĩ và suy luận liên hệ bản thân từ mỗi con người trước hiện tượng sự vật đó. Những cảm nhận này được xuất hiện hình thành từ nhu cầu sáng tạo, từ tác động của tư duy tình cảm và tinh thần của người vẽ.
2.2. Hình mảng và đậm nhạt
Nghệ thuật hội hoạ là một nghệ thuật mặt phẳng vì trên đó chứa đựng toàn bộ tất cả mọi hiệu quả mô tả. Giữa các hình thể có các mối liên hệ tương tác rất phong phú. Mối liên hệ này thực ra không đơn giản, chúng có những mối liên hệ với nhau với góp phần vào sự hoàn thiện của tác phẩm. Mối quan hệ tương tác giữa các hình mảng dẫn đến những tác động thị giác, hiệu quả không gian thậm chí là cả những tác động đến tâm sinh lý của con người. Về mặt thực tiễn, bất cứ hoạ sĩ nào từ xưa đến nay đều phải xây dựng mối quan hệ các hình mảng và đậm nhạt để xây dựng tác phẩm nghệ thuật. ở mỗi hoạ sĩ đều có cách thức sáng tạo riêng. Có thể nói lịch sử hội hoạ là lịch sử của các trào lưu, các khuynh hướng tìm tòi khả năng biểu đạt của hội hoạ. Đến nay các hình thức phối kết hợp các yếu tố tạo hình đã hết sức đa dạng và phong phú.
Đầu tiên con người nhận thức cảm xúc thẩm mỹ thông qua hình ảnh được truyền tải qua kênh thị giác. Hình biểu hiện một thông tin nhận thức về sự vật cụ thể. Người ta biểu hiện hình thể và đặc điểm của sự vật rất rõ nét có thể nói là rất hiện thực. Đây là biểu thị sự quan sát và ghi nhớ hình thể có chú tâm và đầu tư trí nhớ về hình dạng. Hình trong hội họa mang tính tổng hợp nhiều yếu tố tạo hình. Hình cảm nhận qua thị giác mang ý nghĩa cái nhìn cụ thể, hình cơ bản mang ý nghĩa khái quát biểu trưng, hình nhịp điệu phản ánh tính quy luật của tự nhiên, hình cấu trúc mang lý trí con người, hình động thể hiện cái động và cái quy luật cân xứng - hài hòa. Hình biểu đạt được rõ nét ý niệm của người vẽ, đồng thời nó biểu hiện cả ý niệm cảm xúc, sáng tạo thẩm mỹ và cá tính riêng và khí chất của cá nhân nữa. Về phương pháp tổ hợp hình có hai loại mang hai khuynh hướng khác nhau:
Thứ nhất là khuynh hướng phản ánh cái nhìn hiện thực. Hình là hình ảnh khái quát hiện thực nhưng được thể hiện một cách biểu cảm hơn, sâu sắc hơn, thẩm mỹ hơn và có cá tính hơn.
Thứ hai là khuynh phản ánh trí tưởng tượng, phản ánh giấc mơ, cảm giác, tâm trạng, lý trí, tư tưởng, hoặc ý niệm siêu thực và trừu tượng của con người. Loại này thường chỉ lấy một phần cái nhìn thị giác còn phần lớn phản ánh tư duy. Về phong cách hình có bốn loại:
- Thiên về cấu trúc cân xứng ngang bằng xổ thẳng
- Thiên về cái động, cái nhịp điệu, cái liên tục
- Thiên về cái kỳ lạ, quái dị lạ mắt
- Thiên về cái đẹp mang tính trang trí.
Như vậy có nhiều xu hướng khác nhau với sự biểu hiện khác nhau của hình nhưng tất cả đều mang một đặc điểm chung là để người xem cảm nhận được ý đồ sáng tạo của họa sỹ và nó cũng biểu đạt một khuynh hướng cấu tạo nên hình.
Mảng là sự ghép nối giữa hai hoặc nhiều loại hình với nhau. Một mảng có vẻ đẹp của nhiều loại hình, nó có chu vi không gợi rõ một hình mà chứa trong nó rất nhiều hình, nhiều cấu trúc đường nét đậm nhạt, màu sắc, chất cảm, đặc- rỗng, mật độ dày đặc hay thưa thớt. Từ nét và hình trong tranh người ta có thể bố trí một mảng hoặc nhiều mảng xen kẽ là các khoảng trống. Trong mỗi mảng chứa đựng nhiều người, từ đó xem suy ra ý nghĩa phản ánh của ý tưởng tác giả thông qua hình thể nhiều loại và cả các yếu tố tạo hình khác được tổ hợp vào mảng mà thấu hiểu. Trên bề mặt của mảng người ta có thể sử dụng đậm, nhạt, màu sắc nhất là các tổ hợp nét. Ta cảm nhận được giá trị biểu đạt của ngôn ngữ trên mảng không chỉ có những nét độc lập mà còn là sự liên kết của cả một hệ thống nét trên mảng, nét còn tạo ra những hướng chuyển động trên mảng như tranh sóng của Nhật Bản. Hay tranh của Vangoth vẽ mây trên bầu trời đêm, nét đã tạo cho cả bầu trời trình tự đang chuyển động. Trong tranh của Paul Kilee và Mondriau sự cân bằng của mảng và màu được nét đóng khung tạo sự cân bằng ổn định. Tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ mảng màu tuy thay đổi đậm nhạt theo không gian xa gần và khối, nhưng nó đã được hệ thống nét làm rõ hình chi tiết và cả sự ổn định trên mặt tranh.
2.3. Hình tượng
Hình tượng trong sáng tác được xây dựng bởi sự quan tâm của người vẽ. Không như ở hình nghiên cứu mà nó phải tổ chức trong một kết cấu hoàn toàn mới nhưng dựa trên cơ sở hình nghiên cứu, những tư liệu ghi chép từ thực tế mà người vẽ đã khai thác hình tượng đưa vào tranh là hình được xây dựng trên sự cô đọng nhất của hình nghiên cứu. Nó không còn giống hoàn toàn như hình ghi chép mặc dù cả hai cùng sử dụng phương tiện tạo hình. Hình tượng đưa vào sáng tác tranh là sự kết hợp giữa hình có thật và hình trong tư duy của người vẽ, giữa hình nhìn thấy và hình trong đầu (tưởng tượng, ý niệm, hình bằng trí nhớ ) để làm cho hai cái đó hòa hợp thì người vẽ trải qua quá trình suy ngẫm và tìm tòi để sáng tạo. Từ hình tưởng tượng trong ý thức của người vẽ được thể hiện dần ngày càng rõ nét cụ thể  trở thành cái mà người ta có thể cảm thấy được. Vì vậy hình tượng nghệ thuật vừa có cái thực vừa có cái hư cấu của người vẽ. Sự cần thiết đầu tiên cho người vẽ là cần phải thông qua một hình thể để đi tới sự biểu hiện của cảm giác, của tình cảm, ý thức, quan niệm, tư tưởng sáng tạo của mình qua hình tượng đó. Chính vì vậy hình tượng vừa là nội dung lại vừa là hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Nó vừa là cái riêng của người họa sỹ nhưng phảI khái quát được cả cái chung của xã hội, có như vậy hình tượng đó mới có được sức sống lâu dài. Để làm được điều đó việc đầu tiên của người vẽ là sự kích thích, xúc cảm thị giác tiếp theo là tình cảm và tài năng sáng tạo của người vẽ. Những yếu tố có thật tưởng như rời rạc trong cuộc sống khi được đưa vào tranh như đưa vào trong một cái lò lớn phức tạp chịu sự điều tiết của người vẽ với những: nét, mảng, hình, màu sắc, chất cảm  luôn luôn thay đổi được xây dựng bởi hàng nghìn cách khác nhau để trở thành hình tượng nghệ thuật.
 Những nghiên cứu của người vẽ trở thành hình tượng nghệ thuật ví dụ khi vẽ chân dung, tĩnh vật trở thành một tác phẩm những hình tượng nghệ thuật mang giá trị nghệ thuật. Người vẽ đã khái quát, điển hình hơn được hình tượng. Nó vượt qua sự nghiên cứu cơ bản, ghi chép thật như bức tranh Lagiocong của Léoner de vinci. Nhưng để đạt được như vậy thì trước đó người vẽ phải nghiên cứu nhiều, nắm vững được phép cơ bản của hội họa. Tóm lại hình tượng nghệ thuật được xây dựng theo ý tưởng của người vẽ về cuộc sống và con người tạo vật hình thể là sự kết hợp một hoặc nhiều các loại hình nghiên cứu của người vẽ phải học tập, thấu hiểu thuần thục để làm cơ sở cho việc sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật. Từ những loại hình nghiên cứu:
- Hình thị giác (hình họa, con người, tạo vật, thiên nhiên ).
- Hình tư duy, hình khái quát, kỷ hà
- Hình chuyển động - tĩnh.
- Hình của trí tưởng tượng.
- Hình thẩm mỹ trang trí
Người vẽ phải nắm vững các chức năng, ngôn ngữ của các hình nghiên cứu cơ bản mới có thể tổ hợp thành hình tượng nghệ thuật.
Hình tượng nghệ thuật có vai trò rất quan trọng trong việc sáng tạo và xây dựng tác phẩm nghệ thuật. Trong quá trình phát triển của nghệ thuật, việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, cách thức xây dựng hình tượng nghệ thuật của mỗi thời kỳ, giai đoạn và các vùng địa văn hoá có những nét đặc trưng khác nhau. Thông qua sáng tác của mình người nghệ sĩ càng truyền đạt đườc nhiều và đầy đủ thời đại của mình bao nhiêu, sự cảm thụ cuộc sống, cá tính của hoạ sĩ càng xúc tích, phong phú và lớn lao bấy nhiêu. Sự kết hợp nhiều yếu tố, sự hài hoà cái chung với cái riêng độc đáo trong nghệ thuật gọi là điển hình hoá là một điều kiện thiết yếu nhất định phải có để tạo nên hình tượng nghệ thuật.
2.4. Đường nét và nhịp điệu
Nét biểu hiện một khối bằng ranh giới của khối đó với xung quanh, nét mặt phẳng hóa các khối. Có lúc nét triệt tiêu hoàn toàn ấn tượng về khối. Như vậy người ta có thể vẽ bằng cách biểu thị ranh giới của các sự vật trước hết nối một cái nền trung gian là mặt phẳng sau là ranh giới của vật đó với vật khác. Đây là một cách chuyển hóa tất cả các thu nhận thị giác, ấn tượng thị giác đưa hình khối thành đường nét đặc trưng, xúc tích, khai thác triệt để những đặc thù của sự vật đạt những hiệu quả theo ý đồ sáng tạo. Nghệ sĩ Ai Cập diễn tả các nhân vật bằng đường viền uyển chuyển và sự kết hợp cái nhìn ở các diện khác nhau, trên một mặt phẳng. Thân người trên một mặt phẳng được nhìn đồng thời ở ba góc độ nhìn khác nhau, đầu và chân tay vẽ theo hướng nghiêng trong khi mắt, ngực tả hướng chính diện, bụng và hông vẽ nghiêng 3/4. Mỗi bộ phận của cơ th ... tình đã tạo nên sự hài hòa giữa các mảng màu, giữa cảnh trí và con người trong tranh.
5.5. Phác thảo bố cục mảng đen trắng, màu
Khi đã có đầy đủ các yếu tố cần thiết để xây dựng, sáng tác một bức tranh theo chủ đề nội dung đã được xác định, ta cần dành nhiều thời gian, tình cảm và cả trí tuệ nữa để suy nghĩ, sắp xếp, bố cục hình mảng con người và sự vật sao cho đẹp, hợp lí và rõ ý, nêu bật được nội dung chủ đề một cách sâu sắc nhất. Đó là tìm phác thảo bố cục. Trong quá trình tìm phác thảo bố cục ( thường vẽ trên khổ giấy nhỏ bằng 1/2 tờ giấy A4) luôn phải tìm phác thảo theo nhiều dạng, nhiều góc độ khác nhau. Phải vẽ nhiều phác thảo bố cục với sự sắp xếp đơn giản trước, tức là thử đặt hình mảng con người, cảnh vật bằng các mảng đậm nhạt, to nhỏ, hình vẽ đơn giản chưa có chi tiết về dáng hình và đặc điểm của các nhân vật, để tập trung sự suy nghĩ vào việc thay đổi vị trí tìm ra nhiều phương án bố cục khác nhau. Đó là quá trình tìm ý đồ của mình bằng hình trên giấy. Trong khi phác thảo ta sẽ tìm được nhiều ý đồ khác nhau và cùng nảy sinh được nhiều cách biểu hiện nội dung một cách độc đáo hơn. Qua đó gạn lọc những cái hay cái đẹp ở các bố cục nhỏ khác nhau để rút kinh nghiệm làm tiếp các phác thảo khác hoàn chỉnh hơn.
Khi tìm phác thảo đen trắng, phải luôn có ý thức tìm và sắp xếp các mảng chính phụ hài hòa hợp lí, nên tập trung vào mảng chính để diễn tả sau đó dùng tư liệu và vận dụng nhận thức bằng trí tưởng tượng của bản thân để thêm bớt những mảng hình cần thiết để tạo cho một bố cục chặt chẽ hấp dẫn cả về hình thức và nội dung.
Trước khi phác thảo màu, cần thiết phải có phác thảo mảng hình và đậm nhạt kỹ, khuôn khổ có thể lớn bằng tranh sẽ thể hiện hoặc nhỏ hơn nhưng tỉ lệ thuận với một phác thảo nhỏ đã được chọn. Vẽ hình trên giấy khổ lớn là bước đầu thể hiện tranh chủ yếu về bố cục và hình, giai đoạn này ta vẫn có thể điều chỉnh nếu thấy cần thiết. Từ phác thảo nhỏ vẽ lớn ra mới bộc lộ những chỗ chưa hợp lý cần bổ sung thêm bớt hoặc cần có thêm tư liệu để tranh hoàn thiện hơn.
 Khi đã tạm hài lòng với bản vẽ hình và đậm nhạt trên tranh khổ lớn, định hình được tất cả về bố cục, hình tượng nhân vật, không gian, thời gian của tranh, ta có thể bắt đầu tìm một vài phác thảo mẫu theo ý định của mình phù hợp với nội dung của tranh. Giai đoạn này cần có những yếu tố sáng tạo để có sự thăng hoa trong quá trình đi tìm màu sắc. Nếu không có sự say mê và rung động trước một sự kiện nội dung , trước một bố cục đang hình thành thì sẽ không thành công trong công việc thể hiện bức tranh cả về bố cục, hình vẽ và màu sắc vì màu sắc là tình cảm. là linh hồn của bức tranh của tác giả. 
Bước phác thảo chính là bước rèn luyện cho người vẽ khả năng tìm tòi sáng tạo , thể nghiệm, thể hiện ý tưởng, cảm xúc về đối tượng hay cái đẹp dồn nén trước khi thể hiện. Làm tốt bước phác thảo là đã tiến tới gần thành công vì thế nhất thiết bắt buộc sinh viên phải làm phác thảo càng nhiều càng tốt để chọn lựa
5.6. Thể hiện tranh( phóng hình, tìm hình, vẽ màu)
5.6.1. Phóng hình, tìm hình
Trong sách giáo khoa Mỹ thuật từ bậc Tiểu học và Trung học cơ sở và trong nhiều sách tham khảo các tác giả sách Mỹ thuật đã có nhiều bài hướng dẫn về phương pháp phóng tranh và ảnh. Thường có 3 phương pháp phóng tranh 
Phóng tranh theo cách kẻ ô vuông.
Phóng tranh theo cách kẻ ô chữ nhật.
Phóng tranh theo cách kẻ đường chéo.
Ngày nay máy photocopy đã có thể phóng tranh ảnh một cách cực kỳ nhanh chóng và chính xác. Nhưng những người học vẽ và hoạ sỹ phóng tranh của mình từ phác thảo nhỏ thành tranh khổ lớn là một quá trình tiếp tục sáng tác hoàn thiện. Cho nên tuỳ theo mỗi người có thể thực hiện theo phương pháp nào cũng được.
Phóng tranh theo đúng hình mẫu không còn là khó khăn nhưng trong quá trình phóng tranh còn điều chỉnh làm đẹp hơn mới là điều cần luôn luôn coi trọng.
5.6.2. Thể hiện tranh bằng bột màu
Đây là giai đoạn hào hứng và thú vị nhất của người vẽ tranh. Một khi ta đã có đầy đủ điều kiện để thể hiện một bức tranh từng ấp ủ với bao nhiêu công việc đã được chuẩn bị một cách chu đáo. Từ phác thảo đen trắng, đậm nhạt đến phác thảo màu, giấy được căng trên bản vẽ và đã can lại các hình mảng đến từng chi tiết của từng bức tranh, giá vẽ, bút màu vẽ đã sẵn sàng, ta thả mình vào công việc sáng tạo, bằng những nét bút, mảng màu đầu tiên theo dòng cảm xúc của mình.
Khi vẽ màu, dù sao cũng phải trung thành với tinh thần của các mảng sáng tối, đậm nhạt, sắc màu của phác thảo song cũng không cần thiết phải pha thật đúng và chính xác với màu của phác thảo. Vì khi pha màu để làm theo bài phác thảo sự chuẩn xác là rất khó và khi đã vẽ lên những mảng màu lớn, màu cũng sẽ khác đi so với mảng màu nhỏ của phác thảo. Do vậy, khi vẽ màu cần phải so sánh tương quan đậm nhạt của phác thảo cũng như tương quan về các diện, các hình, các sắc độ tương phản, tương hỗ, các sắc nhị của màu sắc để tác phẩm dễ đạt được theo ý muốn.
Điều cần chú ý khi vẽ màu trong tranh là phải so sánh màu trong tối và ngoài sáng của nhân vật và bối cảnh diễn tả trong tranh, những màu sắc tách biệt, đối chọi nhau nhằm để làm rõ, làm tôn hình tượng chủ đề định nhấn mạnh nhưng tất cả vẫn phải hài hoà trong không gian chung. Thông thường ta dùng màu nóng để vẽ phần ánh sáng, màu lạnh để vẽ bóng tối. Nhưng nghệ thuật xử lý màu sắc làm sao cho vừa, cho đẹp đó là cả quá trình học tập và rèn luyện vì đã có rất nhiều cách thể hiện màu sắc khác nhau, có khi bất chấp cả quy luật tự nhiên nhưng vẫn đẹp.
Quá trình vẽ màu cần phác thảo toàn bộ bức tranh trước, vẽ nhanh và vẽ kín hết cả mặt tranh chứ không nên vẽ kỹ và xong từng chỗ một. Sau đó điều chỉnh từng bước, từng chỗ. Trong quá trình vẽ luôn luôn so sánh, quan sát theo phác thảo cần xác định bức tranh mình vẽ nằm trong gam màu chủ đạo nào? So với màu trong phác thảo có khác nhau ở điểm nào?
Khi vẽ màu luôn quán xuyến vào toàn bộ bức tranh. Tránh sa đà vào diễn tả cảm xúc mang tính chi tiết bố cục không có trọng tâm khiến tranh không có một tổng thể đẹp, không thể hiện được ý đồ nội dung, không có sự hài hoà, hấp dẫn của bố cục và màu sắc.
Nói về phương pháp thể hiện tranh, dù vẽ bằng chất liệu gì cũng phải nói đến bút pháp. Từ bút pháp đôi khi được coi như là cội nguồn của mọi thứ trong hội hoạ. Khi ta xem những bức tranh của các hoạ sỹ bậc thầy ta thường quan tâm nhiều đến bút pháp riêng của mỗi người. Ta nhận ra bút pháp vô cùng phong phú, biến đổi qua mỗi thời đại, mỗi dân tộc và mỗi hoạ sỹ đều có những bút pháp riêng độc đáo của mình. Người thì mạnh mẽ, khỏe khắn, thoải mái, người thì mềm mại, uyển chuyển, nhẹ nhàng ....
5.6.3. Hoàn thiện bài, trình bày, bo tranh 
Du kích tập bắn. 1947, tranh bột màu của Nguyễn Đỗ Cung.
Bột màu là một chất liệu hội họa mang lại hiệu quả thẩm mỹ khá cao, cũng là một chất liệu tiện dùng và kinh tế hơn so với chất liệu khác. Chính vì vậy vào thời kỳ kháng chiến, khi cả nước tập chung toàn bộ sức người và sức của cho công cuộc vĩ đại của dân tộc, tranh bột màu đi cùng các họa sĩ tham gia vào cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt đặc biệt trong kháng chiến trống Pháp tranh bột màu trở thành vũ khí đấu tranh, khích lệ tinh thần nhân dân vững vàng, quyết tâm dành lại nền độc lập nước nhà và như ta biết không ít tác phẩm mang lại giá nghệ thuật cao. Ví như trong “Gặp gỡ” của Mai Văn Hiến toát lên một vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà đằm thắm. Bức tranh kể về cuộc gặp gỡ của các nữ dân quân với các anh bộ đội cụ hồ. Trong tranh tác giả thể hiện tình cảm xúc động của cả hai bên, họ gặp nhau tình cờ trên đường, thăm hỏi nhau với một thái độ ân cần thân mật và gần gũi, không có khoảng cách xa lạ mà tất cả như thân quen từ rất lâu bởi ở họ cùng chung một nỗi niềm, cùng lo lắng cho vận mệnh chung của đất nước. Toàn bộ không gian trong bức tranh là một mảng màu lớn với những dãy núi trùng điệp. Bằng những nét bút mềm mại tác giả tạo ra được nhịp điệu của cuộc hành quân và không khí chan hòa ấm áp của buổi gặp gỡ. 
Gặp gỡ, tranh bột màu của Mai Văn Hiến
	Với đặc tính là của bột màu là tính phủ bề mặt cao, khi thể hiện người vẽ chú ý vẽ mảng lớn, đặc biệt trong phương pháp tạo hình nên xây dựng hình thể mang tính khái quát và khai thác triệt để sức biểu cảm của nét cùng với việc biết cách khắc phục những nhược điểm dễ mắc phải như đã trình bày ở trên thì tranh bột màu cũng là chất liệu hội họa đem lại những giá trị nghệ thuật cao.
CÂU HỎI CỦNG CỐ
Bố cục là gì, nó có tầm quan trọng như thế nào đối với một tác phẩm hội hoạ?
Như thế nào gọi là tương quan các yếu tố tạo hình trong hội hoạ.
Có bao nhiêu dạng thức bố cục chính cho một bức tranh? Những dạng thức đó là gì?
Mỗi một nội dung tư tưởng nghệ thuật khác nhau có cần đến những bố cục khác nhau không?
Hãy trình bầy về kỹ thuật sử lý chất liệu bột màu?
8. Bài tập thực hành : 
8.1. Bài tập 1: Đề tài tự do 25 tiết (10 + 15) – Khổ giấy 30 cm x 40 cm
8.1.1. Mục tiêu
- Nắm được phương pháp xây dựng tranh bố cục, vẽ được 1 tranh bố cục đơn giản, có nhóm chính, phụ rõ, thể hiện được một nội dung đã chọn.
8.1.2. Yêu cầu thực hiện
- Đọc kĩ giáo trình trước khi tới lớp
- Sưu tầm, xem trước một số tranh của các họa sĩ tiêu biểu, phân tích tranh theo các dạng thức bố cục và yêu cầu về đường nét, hình mảng mầu sắc trong tranh 
- Khai thác được nội dung phù hợp (chủ đề gần gũi, hiểu biết và yêu thích)
- Phác thảo mảng đen trắng, màu mỗi loại ít nhất 5 cái kích thước 13x18 cm
- khai thác tư liệu ngoài giờ lên lớp (ghi chép, kí họa), nghiên cứu tư liệu sử dụng vào bài tập có hiệu quả.
- Thực hiện đầy đủ các bước xây dựng tranh bố cục.
8.1.3. Kết quả đạt được
- Vẽ được một tranh Bố cục đề tài tự chọn có Bố cục tương đối chặt chẽ, hình mảng có sự thay đổi, có hòa sắc vui mắt.
8.2. Bài tập 2: Đề tài Thiếu nhi 30 tiết (15+15) – Khổ giấy 40 cm x 60 cm
25 tiết (10 + 15) – Khổ giấy 30 cm x 40 cm
8.2.1. Mục tiêu
- vẽ được 1 tranh bố cục đơn giản, có nhóm chính, phụ rõ, thể hiện được chủ đề về thiếu nhi 
- Bài vẽ có cảm xúc và thể hiện được tình cảm yêu mến trẻ em
8.2.2. Yêu cầu thực hiện
- Nắm chắc được phương pháp xây dựng tranh bố cục
- Biết sử dụng ký họa trong việc sắp xếp các nhóm hình
- bước đầu gợi được các mảng hình phong phú trên cơ sở hình vẽ chắt lọc từ thực tế.
- Tuân thủ các bước xây dựng tranh bố cục, mỗi bước có sự sáng tạo thêm 
- Bước đầu biết sử dụng màu chủ đạo, hợp với nội dung tranh.
- Sưu tầm, xem trước một số tranh của các họa sĩ tiêu biểu, phân tích tranh theo các dạng thức bố cục và yêu cầu về đường nét, hình mảng mầu sắc trong tranh 
- Khai thác được nội dung phù hợp (chủ đề gần gũi, hiểu biết và yêu thích)
- Phác thảo mảng đen trắng, màu mỗi loại ít nhất 5 cái kích thước 13x18 cm
- khai thác tư liệu ngoài giờ lên lớp (ghi chép, kí họa), nghiên cứu tư liệu sử dụng vào bài tập có hiệu quả.
8.2.3. Kết quả đạt được
- Vẽ được một tranh Bố cục đề tài thiếu nhi có Bố cục tương đối vui mắt, hình mảng ngộ nghĩnh thay đổi, màu sắc vui tươi. 
8.3. Bài tập 3: Đề tài sinh hoạt 30 tiết (15+15) – Khổ giấy 40 cm x 60 cm
8.3.1. Mục tiêu
- vẽ được 1 tranh bố cục, có nhóm chính, phụ rõ, thể hiện được chủ đề về đề tài sinh hoạt, biết sử dụng các dạng thức bố cục phong phú phù hợp với nội dung đề tài
- Bước đầu hiểu được yếu tố nhịp điệu trong tranh và ứng dụng vào bài vẽ .
8.3.2. Yêu cầu thực hiện
- Nắm được các yếu tố tương phản, nhịp điệu, động tĩnh trong tranh 
- Biết sử dụng ký họa trong việc sắp xếp các nhóm hình
- Tạo được các mảng hình phong phú trên cơ sở hình vẽ chắt lọc từ thực tế.
- Tuân thủ các bước xây dựng tranh bố cục, mỗi bước có sự sáng tạo thêm 
- Biết sử dụng màu chủ đạo, hợp với nội dung tranh, biết diễn chất bột màu phong phú.
- Khai thác được nội dung, có hình thức thể hiện phù hợp
- Phác thảo mảng đen trắng, màu mỗi loại ít nhất 5 cái kích thước 13x18 cm
- khai thác tư liệu ngoài giờ lên lớp (ghi chép, kí họa), nghiên cứu tư liệu sử dụng vào bài tập có hiệu quả.
8.3.3. Kết quả đạt được
- Vẽ được một tranh Bố cục đề tài sinh hoạt có Bố cục riêng hình mảng thay đổi, màu sắc phong phú. 
8.4. Bài tập 4: Đề tài lễ hội 30 tiết ( 15+15) – Khổ giấy 45 cm x 60 cm
8.4.1. Mục tiêu
- vẽ được 1 tranh bố cục về đề tài lễ hội có bố cục, phong cách riêng, thể hiện được tương quan tốt, có tình cảm gợi được cảm xúc cho người xem.
8.4.2. Yêu cầu thực hiện
- Nắm chắc được các yếu tố tương phản, nhịp điệu, động tĩnh trong tranh 
- Biết sử dụng tư liệu triệt để và chắt lọc, biết khai thác vẻ đẹp của đối tượng trong thực tế 
- Tạo được các mảng hình (tạo hình) phong phú trên cơ sở hình vẽ chắt lọc từ thực tế.
- Tuân thủ các bước xây dựng tranh bố cục, mỗi bước có sự sáng tạo thêm 
- Biết sử dụng màu chủ đạo, hợp với nội dung tranh, biết diễn chất bột màu phong phú.
- Biết gợi được không gian, chiều sâu trong tranh, tạo được chất phong phú
- Khai thác được nội dung, có hình thức thể hiện phù hợp
- Phác thảo mảng đen trắng, màu mỗi loại ít nhất 5 cái kích thước 13x18 cm
- khai thác tư liệu ngoài giờ lên lớp (ghi chép, kí họa), nghiên cứu tư liệu sử dụng vào bài tập có hiệu quả.
8.4.3. Kết quả đạt được
- Vẽ được một tranh Bố cục đề tài lễ hội có Bố cục riêng hình mảng thay đổi, màu sắc phong phú toát lên được nội dung chủ đề. 
- Làm chủ được chất liệu, có cách nhìn thẩm mỹ tốt, có kiến thức bố cục cơ bản vững để tiếp tục sử dụng các chất liệu Hội họa thể hiện tranh
- Biết vận dụng kiến thức Bố cục vào học tập các môn học Mỹ thuật
8.5. Bài thi học phần theo đề thi 30 tiết (15+15) – Khổ giấy 45 cm x 60 cm
(yêu cầu cần đạt được như bài 4)
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN:
- Thực hiện học phần Bố cục 1 ở kỳ 2 
- Quỹ thời gian học trên lớp hạn chế nên Giảng viên dạy 50% số giờ của chương trình, 50% sinh viên tự học ngoài ra sinh viên phải đi lấy tài liệu ngoài giờ hoăc vào các đợt thưc tế chuyên môn
 - Giảng viên hướng dẫn cách khai thác, ghi chép tài liệu và sử dụng tài liệu phục vụ nội dung đề tài.
 - Kết thúc mỗi học trình sinh viên treo bài trên lớp để so sánh tương quan, đánh giá sự tiến bộ trong nhận thức và kết quả học tập của mỗi SV. Mỗi sinh viên tự nhận xét đánh giá, rút kinh nghiệm bài của mình và nhận xét, xếp loại bài của tất cả thành viên trong lớp. Giảng viên phân tích, nhận xét bổ sung kiến thức, điều chỉnh và đánh giá kết quả từng bài. 
- Sinh viên: Yêu cầu chuẩn bị đủ đồ dùng dụng cụ học tập, và thực hiện đúng quy trình làm bài. Có ý thức, thường xuyên tới thư viên, triển lãm, bảo tàng để học tập ở các tác phẩm hội họa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Phi Hoanh. Lịch sử Mỹ thuật Việt nam, nhà xuất bản Văn hoá - Hà nội 1978
2. Jacques charpier và Pierre Sechers. Nghệ thuật Hội họa (Dịch Lê Thanh Lộc) NXB trẻ. 1996
3. Đặng Quý Khoa. Giáo trình bố cục. Trường ĐH Mỹ thuật 1992
4. Đàm Luyện. Giáo trình Bố cục tập 1,2,3. NXB Đại học sư phạm .2006
5. Vương Hoằng Lực. Nguyên lí Hội họa đen trắng. NXB mỹ thuật 2002
6. Manhize (Nga) Bàn về những điều cơ bản của Bố cục. Tài liệu dịch của Trường Đại học mỹ thuật TP Hồ Chí Minh. 1992
7. Đặng Bích Ngân (chủ biên), Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông, NXB Giáo dục, 2002.
8. Nguyễn Quân. Nghệ thuật tạo hình Việt nam hiện đại. Nhà xuất bản Mỹ thuật 1997
9. Tạ phương Thảo- Nguyễn Lăng Bình. Kí họa và Bố cục. NXB Giáo dục. 1998
10. Đặng Ngọc Trâm. Cấu trúc Hội họa. NXB Mỹ thuật. 2000
11. Nguyễn Văn Tỵ. Bố cục và các loại tranh khác. Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin 2000.
12. Lê Huy Văn, Trần Từ Thành, Cở sở tạo hình, NXB Mỹ thuật, Hà Nội 1998

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_bo_cuc_1.doc