Một số suy nghĩ về năng lực sáng tạo và phương hướng phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay

Để hình thành nền kinh tế tri thức thì cần phải phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo; trong đó, yếu tố then chốt để phát triển các lĩnh vực nêu trên là nâng cao năng lực sáng tạo của con người. Bài viết tập trung phân tích về sáng tạo, nhất là năng lực sáng tạo của con người, từ đó đề ra phương hướng phát huy năng lực sáng tạo của người Việt Nam hiện nay.

pdf 10 trang thom 08/01/2024 220
Bạn đang xem tài liệu "Một số suy nghĩ về năng lực sáng tạo và phương hướng phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số suy nghĩ về năng lực sáng tạo và phương hướng phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay

Một số suy nghĩ về năng lực sáng tạo và phương hướng phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay
Ý kiến trao đổi Số 49 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 160
MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ NĂNG LỰC SÁNG TẠO 
VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC SÁNG TẠO 
CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 
TRẦN VIỆT DŨNG* 
TÓM TẮT 
Để hình thành nền kinh tế tri thức thì cần phải phát triển khoa học, công nghệ, giáo 
dục và đào tạo; trong đó, yếu tố then chốt để phát triển các lĩnh vực nêu trên là nâng cao 
năng lực sáng tạo của con người. Bài viết tập trung phân tích về sáng tạo, nhất là năng lực 
sáng tạo của con người, từ đó đề ra phương hướng phát huy năng lực sáng tạo của người 
Việt Nam hiện nay. 
Từ khóa: sáng tạo, năng lực sáng tạo, người Việt Nam. 
ABSTRACT 
Some opinions in terms of creative ability and the orientation of promoting Vietnamese 
people’s creative ability at the present time 
In order to establish the knowledge economy of our country, it is necessary to 
develop science, technology, education and training,among which the key factor is to 
promote human beings’ creative ability. This article focuses on analyzing the creativeness, 
especially the creative ability ofhuman beings, so as to propose an orientation to promote 
the Vietnamese people’s creative abilitynowadays. 
Keywords: creativeness, creative ability, Vietnamese people. 
1. Đặt vấn đề 
Cuộc cách mạng công nghệ thông 
tin (IT) đã và đang đưa nhân loại chuyển 
từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri 
thức. Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà 
trong đó việc sản sinh, phổ biến, vận 
dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối 
với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, 
nâng cao chất lượng cuộc sống. Nắm bắt 
được xu thế này của thời đại, Đại hội XI 
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường 
lối đúng đắn trong việc đổi mới và phát 
* ThS, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam 
triển đất nước: “Phát triển kinh tế là 
nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công 
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với 
phát triển kinh tế tri thức... Phát triển 
khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu 
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 
đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn 
lên trình độ tiên tiến của thế giới” [3, 
tr.78]. Để hình thành nền kinh tế tri thức 
ở nước ta, thì cần phải phát triển khoa 
học và công nghệ, giáo dục và đào tạo. 
Biện pháp quan trọng để phát triển hai 
lĩnh vực này là phát huy và nâng cao 
năng lực sáng tạo của con người Việt 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Trần Việt Dũng 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 161 
Nam hiện nay. Khi năng lực sáng tạo 
được phát huy, Việt Nam mới có được 
nguồn nhân lực với hàm lượng trí tuệ 
cao, mới có những sản phẩm có thể cạnh 
tranh trên thị trường quốc tế, và nói 
chung mới phát triển được mọi lĩnh vực 
của đời sống xã hội, hình thành kinh tế tri 
thức. Cho nên, việc tìm hiểu về năng lực 
sáng tạo của con người nói chung để từ 
đó làm cơ sở đưa ra phương hướng phát 
huy, nâng cao năng lực sáng tạo của con 
người Việt Nam hiện nay là vấn đề quan 
trọng và có ý nghĩa thực tiễn. 
2. Giải quyết vấn đề 
2.1. Sáng tạo và năng lực sáng tạo 
Sáng tạo là gì? Nhà nghiên cứu 
Phan Dũng cho rằng: “Sáng tạo là hoạt 
động tạo ra bất kì cái gì có đồng thời tính 
mới và tính ích lợi” [2, tr.14]. Sáng tạo là 
hoạt động chứ không phải chỉ là kết quả, 
và kết quả sáng tạo phải có 2 đặc điểm: 
tính mới và tính ích lợi. Quan điểm này 
cơ bản là đúng đắn. Tuy nhiên thuật ngữ 
“tính ích lợi” được dùng trong lĩnh vực 
sáng chế kĩ thuật hơn là trong mọi loại 
hình sáng tạo. Có những sản phẩm sáng 
tạo không chỉ là có “tính mới” mà nó là 
sản phẩm mới hẳn về chất, chẳng hạn 
những kiệt tác trong văn học, nghệ thuật. 
Hơn nữa, định nghĩa trên chưa liên hệ 
“sáng tạo” với “vấn đề”. Vấn đề có mối 
liên hệ chặt chẽ với sáng tạo. Người ta 
chỉ sáng tạo khi có vấn đề nảy sinh, quá 
trình giải quyết vấn đề cũng chính là quá 
trình sáng tạo. Từ đó, trên lập trường duy 
vật biện chứng, chúng tôi định nghĩa: 
Sáng tạo là quá trình hoạt động của con 
người tạo ra cái mới có giá trị giải quyết 
vấn đề đặt ra một cách hiệu quả, đáp ứng 
nhu cầu xác định của con người. 
Sáng tạo là năng lực đặc trưng vượt 
trội của con người so với loài vật. Nhờ có 
sáng tạo con người tạo ra những sản 
phẩm kì diệu mà thiên nhiên hào phóng 
không thể có được; tạo ra những sản 
phẩm vật chất và tinh thần ngày càng 
phong phú, đa dạng và tinh vi. Sáng tạo 
có ở trong mọi lĩnh vực hoạt động của 
con người (khoa học, nghệ thuật, kinh tế, 
chính trị...). Bởi bất kì hoạt động nào 
không theo khuôn mẫu cũ khiến nảy sinh 
vấn đề và có sự giải quyết nó một cách 
thỏa đáng đều mang tính sáng tạo. Ở điều 
kiện phát triển bình thường, ai cũng có 
năng lực sáng tạo, chỉ khác nhau ở chỗ: 
năng lực sáng tạo cao hay thấp và có khả 
năng phát huy hay không. 
Sáng tạo là hoạt động của con 
người gắn liền với tư duy giải quyết vấn 
đề nhưng không đồng nhất với tư duy. 
Bởi, một mặt nếu không có tư duy của 
chủ thể tìm lời giải cho vấn đề thì nó 
không thể được giải quyết, thiếu tư duy 
không thể có sáng tạo. Mặt khác, tùy theo 
trường hợp cụ thể, để giải quyết vấn đề, 
hình thành sản phẩm sáng tạo, thì không 
chỉ có vai trò chi phối của tư duy (của 
chủ thể) mà còn có sự tham gia của các 
yếu tố khác nữa (như giác quan, ý chí, 
tình cảm, thể lực và những yếu tố bên 
ngoài như: công cụ, tư liệu, môi trường 
xã hội). Cho nên, có bốn bộ phận hợp 
thành trong hoạt động sáng tạo của con 
người, đó là: (i) Chủ thể sáng tạo; (ii) 
Ý kiến trao đổi Số 49 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 162
Vấn đề sáng tạo; (iii) Những điều kiện 
khách quan của sáng tạo (gồm: công cụ, 
phương tiện, tư liệu và môi trường sáng 
tạo); và (iv) Sản phẩm sáng tạo. Cả bốn 
bộ phận này có sự tác động tương hỗ lẫn 
nhau trong đó chủ thể sáng tạo là trung 
tâm, vấn đề sáng tạo là điểm khởi đầu 
(nảy sinh vấn đề sáng tạo ở chủ thể), sản 
phẩm sáng tạo là kết quả. Ở bộ phận thứ 
3 (những điều kiện khách quan của sáng 
tạo) môi trường sáng tạo là yếu tố tác 
động tất yếu lên chủ thể sáng tạo, vì con 
người luôn nằm trong các mối quan hệ xã 
hội và trong đại đa số trường hợp, sự 
sáng tạo của chủ thể không thể thiếu 
những tư liệu, công cụ hay phương tiện 
vật chất. Giữa sản phẩm sáng tạo và ba 
bộ phận còn lại có mối quan hệ nhân quả. 
Nhìn chung, thiếu một trong 4 bộ phận 
trên thì không thể có sáng tạo. 
Trong các bộ phận của hoạt động 
sáng tạo thì chủ thể sáng tạo giữ vai trò 
trung tâm. Trong chủ thể sáng tạo, yếu tố 
cốt lõi là năng lực sáng tạo của chủ thể. 
Nghiên cứu về sáng tạo, phương pháp 
sáng tạo cũng chỉ nhằm nâng cao năng 
lực sáng tạo của con người. Vậy năng lực 
sáng tạo là gì? 
Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Năng 
lực sáng tạo là khả năng tạo ra những cái 
mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới 
mẻ của con người” [6, tr.29]. Tương tự, 
Hồ Bá Thâm có quan niệm ngắn gọn: 
“Năng lực sáng tạo là năng lực tạo ra cái 
mới về chất hợp quy luật” [8]. 
 Trong Tâm lí học, năng lực được 
định nghĩa: “Là tổ hợp các thuộc tính độc 
đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu 
cầu của một hoạt động nhất định, đảm 
bảo cho hoạt động đó có kết quả” [7, 
tr.178]. 
Kế thừa những quan điểm trên, 
chúng tôi định nghĩa: Năng lực sáng tạo 
là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của 
cá nhân dựa trên tổ hợp các phẩm chất 
độc đáo của cá nhân đó. 
Năng lực sáng tạo là cái tiềm ẩn 
bên trong cá nhân, sáng tạo là sự hiện 
thực hóa năng lực sáng tạo của chủ thể 
bằng những sản phẩm sáng tạo. Một khi 
có năng lực sáng tạo thì liệu có ngay sản 
phẩm sáng tạo hay không? Trong đa số 
trường hợp, có năng lực sáng tạo của bản 
thân cá nhân thì chưa đủ, cần phải có 
điều kiện, môi trường sáng tạo để năng 
lực sáng tạo đó phát huy. Một kĩ sư có ý 
tưởng rất độc đáo về một loại máy bay 
đặc biệt nhưng nếu không có tiền, không 
có nhà xưởng, máy móc thiết bị để thiết 
kế thử nghiệm thì mãi mãi chỉ nằm ở 
dạng ý tưởng đơn thuần, không thể trở 
thành sản phẩm sáng tạo cụ thể, chưa kể 
đến môi trường sáng tạo có thuận lợi hay 
không; ủng hộ, khuyến khích hay chê bai, 
chế nhạo ý tưởng đó. 
“Năng lực sáng tạo dựa trên tổ 
hợp phẩm chất độc đáo của cá nhân đó”, 
vậy tổ hợp đó ở đây là gì? Đó chính là 
những đặc điểm về tâm - sinh lí (thể lực, 
trí tuệ) của chủ thể, nhưng không phải 
là toàn bộ những yếu tố tâm - sinh lí mà 
chỉ có những yếu tố nào góp phần (hay 
tham gia) đáng kể vào việc hình thành 
nên sản phẩm sáng tạo. Xét về tổng thể, 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Trần Việt Dũng 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 163 
có thể kể đến ba thành phần cơ bản trong 
năng lực sáng tạo, đó là tư duy sáng tạo, 
động cơ sáng tạo và ý chí. 
Tư duy sáng tạo: Là hệ thống 
những thao tác, cách thức của não bộ xử 
lí, biến đổi các dữ liệu, thông tin nhằm 
hình thành ý tưởng, lời giải của vấn đề 
sáng tạo. Do vậy, tư duy sáng tạo phải 
bao gồm 4 yếu tố hợp thành, đó là: 
(i) Thông tin, dữ liệu làm chất liệu đầu 
vào của tư duy. Chúng có thể được khai 
thác từ các nguồn: tri thức, kinh nghiệm 
(của bản thân và tiếp thu từ xã hội, nhưng 
chủ thể sáng tạo không trở thành “nô lệ” 
cho tri thức, kinh nghiệm đã có), khả 
năng của các giác quan nắm bắt đối 
tượng. 
(ii) Vấn đề sáng tạo (đối tượng, mục 
đích mà tư duy hướng đến): Tư duy nảy 
sinh từ những tình huống có vấn đề, tư 
duy (hay tư duy sáng tạo) luôn có mục 
đích, do vậy hoạt động của nó mang tính 
hướng đích, chứ không phải là suy nghĩ 
lan man, không định hướng. 
(iii) Hệ thống những thao tác, cách 
thức của não bộ xử lí, biến đổi (các dữ 
liệu, thông tin): Hệ thống này hoạt động 
trên cả 3 bình diện: tự ý thức, tiềm thức 
và vô thức. Hệ thống này bao gồm những 
thành tố, cách thức quan trọng như: 
- Năng lực tưởng tượng: Là khả năng 
không thể thiếu của tư duy sáng tạo. Có 
thể nói những người có năng lực sáng tạo 
cao đều phải là người có khả năng tưởng 
tượng tốt. Người bình thường đều có khả 
năng tưởng tượng và khả năng này sẽ 
được phát huy, nâng cao khi tư duy tập 
luyện. Trí tưởng tượng vừa thao tác vừa 
tạo ra dữ liệu cho tư duy. 
- Trực giác: Là khả năng quan trọng 
trong phát minh khoa học, sáng chế. Trực 
giác là kết quả xử lí thông tin ở cấp độ 
tiềm thức và vô thức. Biểu hiện ở tầng tự 
ý thức là sự “lóe sáng”, sự thấu hiểu đột 
ngột. Trực giác không tự dưng xuất hiện, 
nó chỉ xuất hiện ở chủ thể sau khi dã có 
quá trình tư duy lâu dài. 
- Khả năng liên tưởng: Là sự liên 
tưởng đưa đến những dữ liệu, thông tin 
và ý tưởng. 
- Những thao tác, cách thức tư duy 
sáng tạo quan trọng khác như: 
+ Biến đổi, liên kết thông tin, dữ 
liệu một cách đa dạng, nhiều chiều. 
+ Nhạy bén nắm bắt sự tương đồng 
giữa các đối tượng khác nhau. 
+ Năng lực tổng hợp, khái quát hóa, 
trừu tượng hóa, quy nạp ở mức cao. 
(iv) Kết quả của tư duy sáng tạo: Là 
những ý tưởng (đa dạng), lời giải cho vấn 
đề sáng tạo. Nhiệm vụ quan trọng của tư 
duy sáng tạo là đưa ra lời giải của vấn đề 
sáng tạo. Nếu tư duy sáng tạo không đưa 
ra được lời giải có còn gọi là tư duy sáng 
tạo hay không? Khi ta coi ai đó là người 
có tư duy sáng tạo trong một lĩnh vực 
nhất định, thì có nghĩa người đó có năng 
lực tư duy sáng tạo và có khả năng đưa ra 
những ý tưởng, lời giải cho các vấn đề 
sáng tạo ở lĩnh vực đó (chỉ có điều mức 
độ sáng tạo như thế nào mà thôi). Nhưng 
điều này không đồng nhất với việc mọi 
lần thực hiện tư duy, người đó cũng hình 
thành được ý tưởng, lời giải, mà cũng có 
Ý kiến trao đổi Số 49 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 164
những lần thất bại. 
Trong bốn yếu tố trên, yếu tố thứ ba 
có thể coi là đặc trưng của tư duy sáng 
tạo. 
Động cơ sáng tạo: Là cái thúc đẩy 
chủ thể thực hiện hoạt động sáng tạo. 
Động cơ bao gồm: động cơ bên trong 
(nhu cầu, xúc cảm, tình cảm biểu hiện 
là mong muốn, cảm hứng, thích, say mê 
sáng tạo) và động cơ bên ngoài (tác động 
của xã hội: nhu cầu xã hội, tâm lí xã hội). 
Xét ở cá nhân thì động cơ bên trong là cơ 
bản, tuy nhiên nếu xét trên bình diện xã 
hội thì sự tạo động lực hay sự cản trở của 
xã hội có vai trò không nhỏ bởi nó ảnh 
hưởng đến việc phát huy năng lực sáng 
tạo ở đại đa số cá nhân trong xã hội đó. 
Ý chí: Nếu động cơ thúc đẩy hành 
vi sáng tạo, tư duy đảm bảo hoạt động 
sáng tạo đưa ra lời giải của vấn đề thì ý 
chí sẽ giúp chủ thể vượt qua những khó 
khăn, cản trở trong quá trình sáng tạo 
nhằm đi tới đích. Sáng tạo đòi hỏi lòng 
kiên trì, can đảm, kiên định vượt qua 
những khó khăn, rào cản từ bản thân, 
điều kiện (thời gian, tài chính, phương 
tiện), định kiến xã hội và cả những thất 
bại tạm thời để hướng tới kết quả cuối 
cùng. Vì vậy, ý chí là yếu tố không thể 
thiếu ở cá nhân sáng tạo. 
Năng lực sáng tạo của cá nhân 
không phải là một hằng số mà nó thay 
đổi trong cuộc đời của cá nhân, lúc thăng 
lúc trầm. Làm thế nào để đánh giá được 
năng lực sáng tạo của cá nhân? Năng lực 
sáng tạo được biểu hiện qua trình độ sáng 
tạo. Trình độ sáng tạo của cá nhân là sự 
biểu hiện ra bên ngoài của năng lực sáng 
tạo, bằng những sản phẩm sáng tạo mà cá 
nhân đã tạo ra. Tuy nhiên, nếu nhìn vào 
một sản phẩm sáng tạo không thể đánh 
giá hết năng lực sáng tạo của cá nhân mà 
phải thông qua nhiều sản phẩm mới đánh 
giá được đầy đủ. Không thiếu những nhà 
thơ lớn nhưng lại có những bài thơ tầm 
thường, không thiếu những họa sĩ tài 
năng mà có những bức họa xoàng xĩnh. 
2.2. Phương hướng phát huy, nâng 
cao năng lực sáng tạo người Việt hiện 
nay 
Đối với người Việt Nam hiện nay, 
trình độ sáng tạo ở mức nào? Hãy xét 
một vài chỉ số sau: 
Năm 2012, Tổ chức Sở hữu trí tuệ 
toàn cầu (World intellectual Property 
Organization – WIPO thuộc Liên hiệp 
quốc) đã công bố chỉ số đổi mới và sáng 
tạo quốc gia, Việt Nam xếp thứ 76/141 
nước, đứng thứ 5 trong khu vực sau 
Singapore, Malaysia, Brunei Darussalam, 
Thailand. Các năm trước đó, thứ hạng 
của Việt Nam như sau: Năm 2008 xếp 
thứ 65/153 nước, năm 2009: 64/130 
nước, năm 2010: 71/132 nước, năm 
2011: 51/125 nước. [9] 
Như vậy, chỉ số đổi mới và sáng tạo 
của Việt Nam nhìn chung ở mức dưới 
trung bình. 
Xét về chỉ số kinh tế tri thức KEI 
(hình thành trên cơ sở các chỉ số tri thức, 
chỉ số sáng tạo, chỉ số về giáo dục và 
công nghệ thông tin) do UNESCO đưa ra 
trong năm 2008 thì Việt Nam có chỉ số 
KEI là 3,02, xếp 102/133 nước, trong khi 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Trần Việt Dũng 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 165 
các nước có thu nhập trung bình có chỉ số 
là 4,1. Chưa kể đến năng suất lao động 
của Việt Nam rất thấp, chỉ bằng 38% 
Trung Quốc và 27% Thái Lan. [10] 
Chỉ số những bài báo khoa học 
được đăng trên các tập san quốc tế cũng 
biểu hiện khả năng sáng tạo của các nhà 
khoa học Việt Nam. Trong thời gian 10 
năm (từ 1996-2005), các nhà khoa học 
Việt Nam công bố 3456 công trình 
nghiên cứu khoa học trên các tập san 
quốc tế. So sánh với các nước trong khu 
vực thì số lượng ấn phẩm khoa học ở 
Việt Nam vào hàng thấp nhất: bằng 1/5 
so với Thái Lan (14.594 bài trong cùng 
thời gian), 1/3 so với Malaysia (9742 
bài), 1/14 so với Singapore (45.633 bài). 
Ngay cả so với Indonesia (4389 bài) và 
Philippines (3901 bài). [11] 
Số bằng sáng chế cũng là chỉ số 
quan trọng và khách quan để đánh giá 
trình độ sáng tạo cũng như thành tựu 
khoa học của quốc gia đó. Từ năm 2006 
– 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế 
được đăng kí tại Mĩ. Xét trong năm 2011, 
Nhật Bản có 46139 bằng sáng chế, Hàn 
Quốc có 12262, Trung Quốc có 3174, 
Singapore có 647, Malaysia có 161, Việt 
Nam không có bằng sáng chế nào. [12] 
Ở lĩnh vực giáo dục đại học, đến 
cuối năm 2012, Việt Nam có hơn 400 
trường đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, 
trong bảng xếp hạng thứ tự các trường 
đại học đạt chuẩn quốc tế thì Việt Nam 
chưa bao giờ có một trường đại học nào 
góp tên trong “Top 500”. Theo Nguyễn 
Đăng Hưng: “Giáo dục đại học Việt Nam 
ở mức bao nhiêu của thế giới thì chưa rõ, 
nhưng ở mức rất tệ thì quá rõ ràng” [13]. 
Như vậy, những chỉ số trên (được 
xét trong phạm vi vài năm trở lại) cho 
thấy năng lực sáng tạo của người Việt 
Nam chưa được phát huy, trình độ sáng 
tạo còn ở mức thấp, có chăng người Việt 
Nam chỉ sáng tạo trong các cuộc kháng 
chiến cứu nước chống ngoại xâm. Tại sao 
vậy? Khi tìm hiểu lịch sử văn hóa tư 
tưởng của dân tộc thì chúng ta thấy rõ 
hơn thực trạng và nguyên nhân của trình 
độ tư duy của người Việt Nam hiện nay. 
Con người vừa là chủ thể đồng thời 
vừa là sản phẩm của lịch sử. Trình độ tư 
duy hiện nay của người Việt Nam là kết 
quả từ 3 nguyên nhân cơ bản như sau: 
(i) Có thể nhận định rằng từ mấy ngàn 
năm lịch sử đến nay, với những lí do 
khác nhau nước ta chưa có một nền triết 
học và khoa học dân tộc, do vậy chưa có 
truyền thống tư duy triết học và khoa 
học. Những học thuyết và tri thức khoa 
học có ở Việt Nam hầu hết được du nhập 
từ Trung Quốc, Ấn Độ (Nho, Phật, 
Đạo) và nền văn minh phương Tây 
(chủ nghĩa Mác – Lê-nin, hệ tư tưởng tư 
sản). Nhưng vấn đề là chúng ta chỉ 
“sao chép”, “cải biên”, hay “cải tiến”, 
“bổ sung” chứ không sáng tạo sản phẩm 
tư tưởng khác hẳn về chất, riêng biệt, 
không tạo ra cái “của riêng mình”. Nói 
như Đào Duy Anh thì người Việt Nam 
“não sáng tác thì ít, nhưng bắt chước, 
thích ứng và dụng hóa thì rất tài” [1, 
tr.23]. 
(ii) Từ trước đến nay, Việt Nam vẫn là 
Ý kiến trao đổi Số 49 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 166
một nước nông nghiệp với nền sản xuất 
nhỏ (Việt Nam đang phấn đấu đến năm 
2020, về cơ bản trở thành một nước công 
nghiệp) nên đại đa số người dân Việt 
Nam hoặc đang là tiểu nông hoặc có xuất 
thân từ tiểu nông. Do vậy, lối sống nông 
nghiệp, nếp tư duy của người tiểu nông 
đã trở thành “truyền thống” của con 
người Việt Nam từ ngàn đời nay. Trong 
cuốn sách “Đặc điểm tư duy và lối sống 
của con người Việt Nam hiện nay: Một 
số vấn đề lí luận và thực tiễn” của Viện 
Triết học đã nêu rõ quan điểm này: Mặc 
dù chúng ta đã có một thời gian tiếp cận 
với các nền văn hóa phương Tây nhưng 
cốt cách tư duy của người nông dân sản 
xuất nhỏ vẫn còn in sâu đậm trong nếp 
nghĩ, làm cho tư duy của con người Việt 
Nam chưa có sự bứt phá và thay đổi một 
cách cơ bản. [4] 
Phương thức và trình độ tư duy của 
người tiểu nông ở đây chính là: tư duy 
dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu, mang 
tính cảm tính, phiến diện, thiếu cơ sở 
logic, không hệ thống; tầm nhìn hạn chế, 
thiếu tư duy chiến lược, chỉ thấy cái lợi 
trước mắt mà không thấy cái hại lâu dài; 
phương thức tư duy giải quyết vấn đề có 
xu hướng duy tình, thường đơn giản, 
ngắn gọn, mang tính tiểu xảo. Ngoài ra, 
có một điểm hạn chế đáng lưu ý của 
người tiểu nông là bệnh lười tư duy, đúng 
như Nguyễn Văn Huyên (trong cuốn Văn 
minh Việt Nam) đã nói: “Người Việt có 
sự lười biếng về trí não, có xu hướng dễ 
dàng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết 
thảy” [5, tr.52]. 
(iii) Một nguyên nhân quan trọng khác 
là ở nội dung và phương thức giáo dục 
đào tạo (từ năm 1975 đến nay) của Việt 
Nam. Về nội dung giáo dục: khối lượng 
tri thức quá tải (ở bậc trung học trở 
xuống), thiếu hụt, lạc hậu (ở bậc đại học 
trở lên), nặng về tri thức nhẹ về thực 
hành, yếu về kĩ năng; cấu trúc môn học 
chưa hợp lí; chỉ thấy vai trò của “học” mà 
coi nhẹ vai trò của nghiên cứu “sáng 
tạo”. Giảng dạy có tính áp đặt, nhồi nhét, 
không gợi mở tư duy, chưa khuyến khích, 
kích thích tính tích cực, sáng tạo của 
người học. Người học thường thụ động, 
đối phó, thực dụng là chủ yếu. Nói 
chung, nền giáo dục của Việt Nam chưa 
đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát 
triển đất nước, chưa hình thành được 
nguồn nhân lực có trình độ tư duy khoa 
học, tư duy sáng tạo (xét về đa số). 
Vậy làm thế nào để phát huy và 
nâng cao năng lực sáng tạo của người 
Việt hiện nay? 
Trước hết, đường lối lãnh đạo đúng 
đắn của Đảng là nhân tố quan trọng nhất 
đối với sự phát triển mọi mặt của đất 
nước, đối với việc phát huy, nâng cao 
năng lực sáng tạo của người Việt. 
Từ sự phân tích về sáng tạo và năng 
lực sáng tạo như trên, cho thấy việc phát 
huy và nâng cao năng lực sáng tạo người 
Việt cần theo hướng: 
- Hình thành môi trường sáng tạo; 
- Tạo điều kiện vật chất và tinh thần 
để cá nhân có năng lực sáng tạo phát huy; 
- Nền tảng để hình thành tư duy sáng 
tạo, nhân cách sáng tạo nằm ở nội dung, 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Trần Việt Dũng 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 167 
cơ chế và chính sách trong giáo dục - đào 
tạo và khoa học - công nghệ. 
Cụ thể là: 
 Đối với giáo dục - đào tạo, nên: 
- Viết sách giáo khoa và giáo trình 
môn Sáng tạo học và Phương pháp luận 
sáng tạo với nội dung và trình độ phù hợp 
với các bậc học (từ cấp trung học cơ sở 
trở lên), đưa hai môn học này vào giảng 
dạy ở các bậc học trên với tư cách là hai 
môn học chính. 
- Giáo viên, giảng viên lên lớp cần 
phải: 
+ Hiểu và áp dụng được những 
phương pháp giảng dạy kích thích tư duy, 
óc sáng tạo của người học. 
+ Có thái độ cởi mở, khuyến khích 
người học có ý kiến khác biệt, sáng kiến. 
- Thay đổi tiêu chí đánh giá trình độ 
người học từ chỗ coi trọng việc hấp thụ 
tri thức đến việc đề cao năng lực tư duy, 
năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành của 
người học. 
- Có sự khen thưởng xứng đáng, biểu 
dương những giáo viên, học sinh, sinh 
viên đã có công trình sáng tạo, sáng kiến 
trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập. 
 Đối với khoa học - công nghệ, 
nên: 
- Đầu tư, tạo điều kiện cho những 
nhà khoa học, kĩ sư sáng chế biến ý 
tưởng triển vọng thành sản phẩm sáng tạo 
thực tế; đầu tư đặc biệt cho những ý 
tưởng đột phá. 
- Tập trung, sưu tầm những vấn đề 
sáng tạo ở mọi lĩnh vực trong đời sống xã 
hội thành một danh sách “hệ vấn đề sáng 
tạo”. Và danh sách này sẽ khơi nguồn 
sáng tạo trước hết cho các nhà khoa học, 
kĩ sư sáng chế. 
- Lấy tính sáng tạo của sản phẩm 
khoa học, công nghệ làm tiêu chí cao 
nhất để đánh giá chất lượng sản phẩm, 
cũng như đánh giá hiệu quả công việc và 
định mức thu nhập của các nhà khoa học, 
kĩ sư sáng chế. 
- Thiết lập viện nghiên cứu về sáng 
tạo; nhà khoa học, kĩ sư sáng chế là 
những người tạo ra, sử dụng thành thạo 
các phương pháp sáng tạo. 
- Xây dựng thư viện, phòng thí 
nghiệm, thực nghiệm với những tư liệu, 
thiết bị công cụ đa dạng, tiên tiến, hiện 
đại nhất có thể. 
 Đối với các cơ quan báo chí, 
truyền thông, nhà xuất bản, nên: 
- Tổ chức các sự kiện tuyên truyền, 
đề cao vai trò của sáng tạo, phương pháp 
luận sáng tạo. 
- Ưu tiên đăng tải, xuất bản những 
bài viết, ấn phẩm có nội dung về lĩnh vực 
sáng tạo, phương pháp luận sáng tạo. 
 Đối với các cơ quan, tổ chức 
trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, 
văn hóa, nên: 
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho 
đội ngũ cán bộ, nhân viên học ngoại khóa 
về phương pháp luận sáng tạo. 
- Thực hiện chính sách: “Ý tưởng 
mỗi ngày” với nội dung: khuyến khích, 
yêu cầu mỗi cán bộ, nhân viên đóng góp 
ý tưởng, sáng kiến để nâng cao, hoàn 
Ý kiến trao đổi Số 49 năm 2013 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 168
thiện, phát triển ngành của mình; bao 
hàm những khen thưởng xứng đáng cho 
cá nhân tích cực, cá nhân có ý tưởng sáng 
tạo. 
- Khuyến khích, yêu cầu các cán bộ, 
nhân viên luôn tìm tòi, đổi mới phương 
pháp làm việc sao cho năng suất, hiệu 
quả công việc ngày càng cao. 
 Đối với các hoạt động văn hóa - 
xã hội, nên: 
- Tổ chức các cuộc thi, trò chơi về 
sáng tạo ở các lĩnh vực khác nhau 
chẳng hạn: cuộc thi về giải pháp bảo vệ 
môi trường; giải pháp an toàn giao 
thông; giải pháp an toàn lương thực, 
thực phẩm. 
Trong tất cả các biện pháp trên, 
những biện pháp về giáo dục - đào tạo và 
khoa học - công nghệ giữ vai trò quan 
trọng nhất, có hiệu quả bền vững, lâu dài 
nhất đối với việc phát huy và nâng cao 
năng lực sáng tạo của người Việt Nam 
hiện nay. 
3. Kết luận 
Sáng tạo là quá trình hoạt động của 
con người tạo ra cái mới, có giá trị giải 
quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả. 
Trong hoạt động sáng tạo thì chủ thể sáng 
tạo giữ vai trò trung tâm. Trong chủ thể 
sáng tạo, yếu tố cốt lõi là năng lực sáng 
tạo của chủ thể. Năng lực sáng tạo là khả 
năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân 
dựa trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo 
của cá nhân đó. Nhìn chung, năng lực 
sáng tạo có 3 yếu tố cơ bản là: tư duy 
sáng tạo, động cơ sáng tạo và ý chí. Đối 
với người Việt Nam hiện nay, từ những 
số liệu trên nhiều phương diện cho thấy 
trình độ sáng tạo của chúng ta ở mức 
thấp. Đây là một điều đáng buồn. Tuy 
nhiên, từ những sáng chế của những 
người lao động bình dân, qua những 
thành tựu nổi bật về khoa học - công 
nghệ của người Việt ở nước ngoài, cho 
thấy tiềm năng sáng tạo của người Việt 
Nam là không nhỏ, vấn đề ở chỗ phải 
“đánh thức” tiềm năng đó. Phương hướng 
cơ bản là tạo ra môi trường sáng tạo và 
xác định: Nền tảng để hình thành tư duy 
sáng tạo, nhân cách sáng tạo là nằm ở 
nội dung, cơ chế và chính sách trong 
giáo dục - đào tạo và khoa học - công 
nghệ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Đào Duy Anh (1951), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Bốn phương, Sài Gòn. 
2. Phan Dũng (2010), Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (quyển một 
của bộ sách “Sáng tạo và đổi mới”), Nxb Trẻ, TPHCM. 
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 
4. Nguyễn Ngọc Hà (chủ biên) (2011), Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt 
Nam hiện nay: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 
5. Nguyễn Văn Huyên (2005), Văn minh Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. 
Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Trần Việt Dũng 
_____________________________________________________________________________________________________________ 
 169 
6. Huỳnh Văn Sơn (2009), Tâm lí học sáng tạo, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 
7. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) (2005), Tâm lí học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia 
Hà Nội. 
8. 
18/View/Tu-Duy/Nguoi_Viet_Nam_can_tu_duy_sang_tao/ 
9.  
10.  
11. 
dau.html 
12. 
sang-che-.html 
13. 
the-gioi.htm 
(Ngày Tòa soạn nhận được bài: 05-6-2013; ngày phản biện đánh giá: 16-7-2013; 
ngày chấp nhận đăng: 20-8-2013) 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_suy_nghi_ve_nang_luc_sang_tao_va_phuong_huong_phat_hu.pdf