Kết quả thực nghiệm nâng cao khả năng tư duy của học sinh Tiểu học bằng bài tập môn Toán

Bài viết đề cập kết quả thực nghiệm nâng cao khả năng tư duy logic cho học sinh

lớp 3 và lớp 5 thông qua bài tập môn Toán. Kết quả cho thấy sự tác động tích cực

thông qua các dạng bài tập đến khả năng tư duy logic của học sinh, có thể nâng cao

mức độ tư duy logic cho học sinh. Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy các biện pháp

thực nghiệm đối với học sinh lớp 3 có hiệu quả hơn so với học sinh lớp 5 trong cùng

hướng tác động.

pdf 8 trang thom 08/01/2024 280
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả thực nghiệm nâng cao khả năng tư duy của học sinh Tiểu học bằng bài tập môn Toán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả thực nghiệm nâng cao khả năng tư duy của học sinh Tiểu học bằng bài tập môn Toán

Kết quả thực nghiệm nâng cao khả năng tư duy của học sinh Tiểu học bằng bài tập môn Toán
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 11 - 2018 ISSN 2354-1482 
10 
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TƯ DUY 
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC BẰNG BÀI TẬP MÔN TOÁN 
 Nguyễn Thị Thu Ba1 
TÓM TẮT 
Bài viết đề cập kết quả thực nghiệm nâng cao khả năng tư duy logic cho học sinh 
lớp 3 và lớp 5 thông qua bài tập môn Toán. Kết quả cho thấy sự tác động tích cực 
thông qua các dạng bài tập đến khả năng tư duy logic của học sinh, có thể nâng cao 
mức độ tư duy logic cho học sinh. Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy các biện pháp 
thực nghiệm đối với học sinh lớp 3 có hiệu quả hơn so với học sinh lớp 5 trong cùng 
hướng tác động. 
Từ khóa: Thực nghiệm, tư duy logic, học sinh tiểu học 
1. Đặt vấn đề 
Học sinh tiểu học vùng nông thôn 
đồng bằng sông Cửu Long sống và học 
tập trong điều kiện còn nhiều khó khăn. 
Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập 
và mức độ phát triển tâm lý của học 
sinh, đặc biệt là tư duy logic. Theo kết 
quả nghiên cứu thực trạng về mức độ 
phát triển tâm lý của học sinh lớp 3, 5 
vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu 
Long, đa số học sinh lớp 3 có khả năng 
tư duy logic ở mức trung bình và dưới 
trung bình, trong đó mức trung bình có 
49,3% học sinh, mức yếu có 23,3% và 
22% học sinh có mức độ phát triển kém. 
Đối với học sinh lớp 5, 93,3% học sinh 
có mức tư duy logic trung bình và dưới 
trung bình, mức khá chỉ có 6,7%. Điều 
này cho thấy thực trạng đáng lo ngại về 
năng lực tư duy logic hạn chế của học 
sinh trong việc xác lập mối liên hệ, 
thuộc tính, bản chất của tài liệu học tập 
cũng như giải quyết các bài tập nhận 
thức có liên quan. Do đó chúng tôi tiến 
hành thực nghiệm để nâng cao khả năng 
tư duy logic của học sinh tiểu học vùng 
đồng bằng sông Cửu Long bằng bài tập 
môn Toán như một biện pháp tác động 
có chủ đích. 
2. Giải quyết vấn đề 
2.1. Khách thể và phương pháp 
nghiên cứu 
2.1.1. Khách thể nghiên cứu 
Nghiên cứu thực nghiệm được thực 
hiện trên 109 học sinh khối lớp 3 và 5, 
năm học 2016 - 2017, gồm 2 lớp thực 
nghiệm (TN) (lớp 3A và lớp 5A), 2 lớp 
đối chứng (ĐC) (lớp 3B và lớp 5B) 
thuộc trường Tiểu học Văn Giáo, tỉnh 
An Giang. 
Bảng 1: Mẫu nghiên cứu thực nghiệm 
Giới tính 
Lớp TN 
(3A) 
Lớp ĐC 
(3B) 
Lớp TN 
(5A) 
Lớp ĐC 
(5B) 
Chung 
Nam 17 12 15 17 61 
Nữ 9 11 14 14 48 
Tổng 26 23 29 31 109 
1Trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh 
Email: thuba@ier.edu.vn 
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 11 - 2018 ISSN 2354-1482 
11 
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu 
Phương pháp chính mà chúng tôi sử 
dụng trong nghiên cứu này là phương 
pháp thực nghiệm sư phạm. Ngoài ra 
chúng tôi còn sử dụng phương pháp 
thống kê toán học để xử lý kết quả đo 
trước và sau thực nghiệm. 
- Giả thuyết thực nghiệm: Có thể 
nâng cao khả năng tư duy logic bằng 
cách cho học sinh luyện tập các bài toán 
có lời văn tích hợp các dấu hiệu đòi hỏi 
có vận dụng tư duy logic để giải quyết 
vấn đề. 
Như vậy biến tác động và biến phụ 
thuộc là: 
+ Biến tác động: những bài tập cụ 
thể được sử dụng và cách thức triển 
khai các bài tập đó, hình thức tổ chức 
hoạt động và sự tích cực tham gia của 
học sinh lớp 3, lớp 5. 
+ Biến phụ thuộc: khả năng giải bài 
tập của học sinh lớp 3, lớp 5. 
- Cơ sở của việc thực hiện thực 
nghiệm: Việc tổ chức thực nghiệm được 
thực hiện dựa trên những điều kiện sau: 
+ Điều kiện chủ quan: thành quả sự 
phát triển tâm lý của học sinh tiểu học, 
đặc biệt là thành quả của sự phát triển 
tư duy; thực trạng khả năng tư duy logic 
của học sinh lớp 3 và lớp 5 đã được 
nghiên cứu. 
+ Điều kiện khách quan: nội dung 
chương trình, đặc điểm hoạt động dạy - 
học toán lớp 3 và lớp 5 và đặc trưng của 
bài toán có lời văn trong môn Toán bậc 
tiểu học. 
- Mô tả tác động thực nghiệm: 
Việc tác động thực nghiệm được 
tiến hành trong tiết thực hành luyện tập 
trên lớp bằng cách tổ chức cho học sinh 
thực hiện giải các bài toán thuộc các 
dạng toán điển hình có lời văn. Dựa trên 
kế hoạch bài dạy theo nội dung phân bố 
chương trình môn Toán của khối lớp 3 
và lớp 5, giáo viên tổ chức cho học sinh 
hoạt động giải bài toán có lời văn với 4 
yêu cầu cho mỗi dạng toán. 
+ Yêu cầu 1: Tóm tắt bài toán và 
giải toán 
Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc đề bài. 
Bước 2: Hỏi học sinh bài toán cho 
biết gì, bài toán hỏi gì. 
Bước 3: Yêu cầu 1 học sinh lên tóm tắt. 
Bước 4: Hỏi học sinh đây là bài 
toán dạng gì? Muốn giải bài toán ta làm 
như thế nào? 
Bước 5: Chia lớp thành nhiều 
nhóm, mỗi nhóm 3 học sinh, các nhóm 
dựa vào tóm tắt thi đua làm bài. Thời 
gian thảo luận là 3 phút. Nhóm nào làm 
đúng, làm nhanh là nhóm thắng cuộc. 
Bước 6: Giáo viên cùng cả lớp nhận 
xét, tuyên bố nhóm thắng cuộc. 
+ Yêu cầu 2: Dựa vào các số đã có 
(ở bài toán ban đầu), nêu bài toán có 
nội dung khác nhưng cùng dạng 
Bước 1: Chia lớp thành các nhóm, 
mỗi nhóm 4 học sinh. 
Bước 2: Yêu cầu các nhóm thảo 
luận: dựa vào các số cho sẵn của bài toán 
ban đầu, hãy nêu một bài toán có nội 
dung khác nhưng cùng dạng với bài toán 
đã học. Thời gian thảo luận là 3 phút. 
Bước 3: Gọi các nhóm nêu bài toán. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 11 - 2018 ISSN 2354-1482 
12 
Bước 4: Nhận xét. 
Bước 5: Chọn một đề bài toán trong 
các bài toán các nhóm nêu làm đề bài 
chung. Yêu cầu các nhóm giải bài toán 
(thời gian giải 3 phút). 
Bước 6: Yêu cầu các nhóm trình bày. 
Bước 7: Nhận xét (lớp và giáo viên). 
+ Yêu cầu 3: Nêu bài toán có nội 
dung và cách giải giống với yêu cầu 2 
nhưng có số khác 
Bước 1: Yêu cầu học sinh nêu bài 
toán có nội dung và cách giải giống bài 
toán ở yêu cầu 2 nhưng có số khác. 
Bước 2: Cho học sinh thảo luận 
nhóm 2 (2 phút). 
Bước 3: Gọi các nhóm trình bày. 
Bước 4: Giáo viên nhận xét. 
+ Yêu cầu 4: Nêu bài toán có nội 
dung và số khác nhưng cách giải 
giống ở yêu cầu 3 
Bước 1: Yêu cầu học sinh nêu bài 
toán có nội dung và số khác nhưng có 
cách giải giống bài toán ở trên (yêu cầu 3). 
Bước 2: Cho học sinh suy nghĩ, làm 
bài cá nhân. 
Bước 3: Yêu cầu các em xung 
phong phát biểu. 
Bước 4: Giáo viên cùng lớp nhận xét. 
Bước 5: Nhắc lại dạng toán chung 
và cách giải. 
Bước 6: Nhận xét tiết học. 
- Tiến hành thực nghiệm: Các bước 
nghiên cứu được thực hiện như sau: 
Bước 1: Đo trước thực nghiệm: 
thực hiện đối với 109 học sinh ở cả 2 
nhóm thực nghiệm và đối chứng. Bài 
toán được thực hiện trong 30 phút, bài 
toán gồm 4 yêu cầu. Giáo viên giải 
thích yêu cầu và tính giờ làm bài cho 
mỗi yêu cầu. 
Bước 2: Tác động thực nghiệm: 
tác động thực nghiệm được thực hiện với 
55 học sinh trong nhóm thực nghiệm 
theo hình thức tiết thực hành luyện tập 
trong lớp. Thời gian tác động được thực 
hiện trong 4 tuần (8 tiết, mỗi tuần 2 tiết) 
với các bước theo 4 yêu cầu đã được mô 
tả ở trên. Chúng tôi dựa vào các tài liệu 
[1], [2], [3], [4] để xây dựng kế hoạch 
luyện tập tuân theo phân phối chương 
trình hiện hành của từng khối lớp. Giáo 
viên dựa vào hướng dẫn các bước thực 
nghiệm để soạn kế hoạch bài dạy, trao 
đổi với nhóm nghiên cứu để thống nhất 
và lên lớp theo từng tiết học. 
Bước 3: Đo sau thực nghiệm: thực 
hiện ở cả 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng. 
Bài toán được thực hiện trong 30 
phút gồm 4 yêu cầu theo nguyên tắc của 
đo trước thực nghiệm. Giáo viên giải 
thích yêu cầu và tính giờ làm bài cho 
mỗi yêu cầu. 
Thang đo trước và sau thực nghiệm 
dành cho học sinh ở mỗi khối lớp 3, 5 là 
khác nhau. Các dạng bài toán sử dụng 
cho thang đo được tham khảo từ các 
sách giáo khoa và sách tham khảo môn 
Toán lớp 3, 5 [1], [3], [5], [6], [7], [8]. 
- Cách đánh giá: Bài tập đo được 
chấm điểm theo thang điểm 10. Sau khi 
chấm điểm bài làm của học sinh, nhóm 
nghiên cứu quy đổi điểm ra tỷ lệ phần 
trăm và đánh giá tư duy logic của các 
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 11 - 2018 ISSN 2354-1482 
13 
em theo 5 mức độ tương ứng với tỷ lệ phần trăm. 
Bảng 2: Các mức độ đánh giá tư duy logic của hoc sinh theo tỷ lệ phần trăm 
Tỷ lệ phần trăm Xếp loại 
0 – 34 Phát triển kém 
35 – 49 Phát triển yếu 
50 – 64 Phát triển trung bình 
65 – 79 Phát triển khá 
80 – 100 Phát triển tốt 
2.2. Kết quả nghiên cứu 
Để khẳng định hiệu quả của tác 
động thực nghiệm nhóm nghiên cứu tập 
trung tìm hiểu mức độ tư duy logic của 
học sinh ở lần đo trước thực nghiệm, đo 
sau thực nghiệm và so sánh sự khác biệt 
có ý nghĩa của hai lần đo ở nhóm thực 
nghiệm và nhóm đối chứng. 
2.2.1. Kết quả đo trước thực nghiệm 
Bảng 3: Đánh giá mức độ tư duy logic của học sinh trước thực nghiệm 
Mức 
độ tư 
duy 
Phát triển 
kém 
Phát triển 
yếu 
Trung bình Phát triển 
khá 
Phát triển 
tốt Tổng cộng 
Lớp Số 
lượng 
Tỷ lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ lệ 
(%) 
TN 
(3A) 
19 73,1 7 26,9 0 0 0 0 0 0 26 100 
ĐC 
(3B) 
7 30,4 11 47,8 3 13 2 8,7 0 0 23 100 
TN 
(5A) 
5 17,2 10 34,5 7 24,1 5 17,2 2 6,9 29 100 
ĐC 
(5B) 
21 67,7 5 16,1 2 6,5 2 6,5 1 3,2 31 100 
Biểu đồ 1: Đánh giá mức độ tư duy logic của học sinh trước thực nghiệm 
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 11 - 2018 ISSN 2354-1482 
14 
Khi tiến hành khảo sát mức độ tư 
duy logic của học sinh 2 nhóm đối 
chứng và thực nghiệm qua giải các bài 
toán có lời văn, số liệu ở bảng 3 cho thấy 
mức độ phát triển tư duy của các em đã 
phân bố tương đối ở cả 5 mức độ. Trong 
đó mức độ phát triển tư duy của học sinh 
lớp 3A chỉ tập trung ở mức dưới trung 
bình với tỷ lệ 73,1% (19 em) ở mức 
kém. Các em học sinh lớp 3B cho thấy 
sự tiến bộ hơn khi có 2 em đạt mức khá 
và 3 em đạt mức trung bình với tỷ lệ lần 
lượt là 8,7% và 13%; trong số học sinh ở 
mức độ dưới trung bình thì tỷ lệ ở mức 
yếu cũng nhiều hơn so với mức kém 
(47,8% so với 30,4%). Ở học sinh khối 
lớp 5, học sinh lớp 5A có kết quả tương 
đối tốt hơn so với học sinh lớp 5B với số 
lượng học sinh đạt mức trung bình, khá 
và tốt nhiều hơn. Cụ thể, lớp 5A có 7 em 
có tư duy logic đạt mức trung bình, 5 em 
đạt mức khá và 2 em đạt mức tốt với 
tổng tỷ lệ là 48,2%, như vậy vẫn còn hơn 
1/2 học sinh lớp 5A có tư duy logic ở 
mức dưới trung bình. So với lớp 5A thì 
lớp 5B có tỷ lệ học sinh ở dưới mức 
trung bình còn cao hơn với 83,8%, bên 
cạnh đó lớp này vẫn có học sinh đạt các 
mức phát triển trung bình, khá và tốt với 
các tỷ lệ tương ứng lần lượt là 6,5%; 
6,5% và 3,2%. 
2.2.2. Kết quả đo sau thực nghiệm 
Bảng 4: Đánh giá mức độ tư duy logic của học sinh lớp 3 và lớp 5 
Mức 
độ tư 
duy 
Phát triển 
kém 
Phát triển 
yếu 
Trung bình 
Phát triển 
khá 
Phát triển 
tốt 
Tổng cộng 
Lớp Số 
lượng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
Số 
lượng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
TN 
(3A) 
16 61,5 0 0 4 15,4 4 15,4 2 7,7 26 100 
ĐC 
(3B) 
12 52,5 6 26,1 0 0 2 8,7 3 13 23 100 
TN 
(5A) 
6 20,7 3 10,3 3 10,3 10 34,5 7 24,1 29 100 
ĐC 
(5B) 
15 48,4 4 12,9 1 3,2 5 16,1 6 19,4 31 100 
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 11 - 2018 ISSN 2354-1482 
15 
Biểu đồ 2: Đánh giá mức độ tư duy logic của học sinh sau thực nghiệm 
Kết quả khảo sát mức độ tư duy 
logic của nhóm thực nghiệm cho thấy 
các em đã đạt được sự tiến bộ đáng kể 
với các tỷ lệ ở các mức độ trên trung 
bình. Cụ thể, tỷ lệ phát triển kém của 
học sinh lớp 3A giảm từ 73,1% xuống 
61,5%; không có tỷ lệ học sinh ở mức 
phát triển yếu, còn lại ở các mức trung 
bình, khá và tốt với tỷ lệ lần lượt là 
15,4%; 15,4% và 7,7%. Ở lớp 5A, tỷ lệ 
học sinh có tư duy mức độ dưới trung 
bình chỉ còn 31%; hơn 2/3 học sinh đạt 
được các mức trên trung bình; trong đó 
tỷ lệ học sinh ở mức phát triển khá 
chiếm đa số với 34,5%, mức tốt với 
24,1% và mức trung bình với 10,3%. 
Như vậy so với khảo sát ban đầu lớp 3A 
có 10 học sinh thể hiện sự tiến bộ (vượt 
lên mức trên trung bình); lớp 5A có 6 
em thể hiện sự tiến bộ, đặc biệt các em 
này tập trung ở mức khá và tốt. 
Tìm hiểu ở nhóm đối chứng, lớp 3B 
thể hiện sự tiến bộ khi có 3 em đạt mức 
phát triển tư duy logic tốt (tỷ lệ 13%); 
lớp 5B có 7 em đạt được sự tiến bộ và 
các em cũng tập trung nhiều ở các mức 
khá và tốt với tổng tỷ lệ học sinh có tư 
duy logic trên trung bình là 38,7%. 
2.2.3. So sánh sự khác biệt kết quả 
bài tập giữa hai lần đo của học sinh 
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 
a. Nhóm thực nghiệm
Bảng 5: Sự khác biệt điểm trung bình của học sinh giữa 2 lần đo ở nhóm thực 
nghiệm (kết quả đo sau thực nghiệm so với trước thực nghiệm) 
Lớp 
Chênh lệch điểm 
trung bình 
Độ lệch tiêu 
chuẩn 
T Df Giá trị sig 
Lớp 3A 2,8189 0,5528 5,635 25 0,000 
Lớp 5A 1,121 2,206 2,682 28 0,012 
Nhóm nghiên cứu thực hiện kiểm 
định so sánh cặp đôi (Paired - Samples 
T Test) để tìm hiểu sự khác biệt có ý 
nghĩa của điểm trung bình giữa 2 lần 
khảo sát. Kết quả kiểm nghiệm ở bảng 5 
cho thấy với tất cả các giá trị sig đều 
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 11 - 2018 ISSN 2354-1482 
16 
nhỏ hơn alpha (với alpha là 0,05) thể 
hiện có sự khác biệt có ý nghĩa giữa kết 
quả khảo sát giữa 2 lần đo. Nói cách 
khác, kết quả khảo sát học sinh sau khi 
tiến hành thực nghiệm có khác biệt so 
với kết quả trước khi tiến hành thực 
nghiệm và sự khác biệt này theo hướng 
đi lên (hiệu của điểm trung bình sau 
thực nghiệm với trước thực nghiệm là 
giá trị dương). 
b. Nhóm đối chứng 
Bảng 6: Sự khác biệt điểm trung bình của học sinh giữa 2 lần đo ở nhóm đối 
chứng (kết quả đo sau thực nghiệm so với trước thực nghiệm) 
Lớp 
Chênh lệch điểm 
trung bình 
Độ lệch 
tiêu chuẩn 
T Df Giá trị sig 
Lớp 3B 0,152 2,2735 0,321 22 0,751 
Lớp 5B 1,629 3,0331 2,990 30 0,006 
Số liệu ở bảng 6 cho thấy chỉ có sự 
khác biệt có ý nghĩa giữa 2 lần đo chỉ số 
phát triển tư duy logic của học sinh lớp 
5B (với alpha được chọn là 0,05; giá trị 
Sig là 0,006 nhỏ hơn alpha). Kết quả 
này cho thấy mặc dù không có tác động 
thực nghiệm nhưng nhờ hoạt động học 
tập tư duy logic của học sinh lớp 5B 
vẫn có sự phát triển. Mặt khác ở lớp 5B, 
chúng ta thấy sự chênh lệch điểm trung 
bình giữa hai lần đo của lớp đối chứng 
là 1,629 cao hơn so với chênh lệch điểm 
trung bình giữa hai lần đo của lớp thực 
nghiệm 5A là 1,121. Câu hỏi đặt ra là 
liệu tác động thực nghiệm về tư duy 
logic có đem lại hiệu quả trong khi ở 
lớp đối chứng mặc dù không có tác 
động nhưng điểm kiểm tra lần sau vẫn 
cao hơn lần trước và sự chênh lệch còn 
cao hơn so với nhóm thực nghiệm? Để 
trả lời câu hỏi này nhóm nghiên cứu sử 
dụng kiểm nghiệm kiểm tra sự khác biệt 
về điểm trung bình của 2 mẫu độc lập 
(Independent - Samples T-test), kết quả 
thể hiện ở bảng 7. 
Bảng 7: Sự khác biệt điểm trung bình giữa 2 lớp 5 
Lớp 
Điểm trung 
bình 
Độ lệch 
chuẩn 
t df 
Giá trị 
sig (2- đuôi) 
Chênh lệch điểm 
trung bình 
5A 5,741 0,4892 
2,130 58 0,037 1,628 
5B 4,113 0,5809 
Số liệu ở bảng 7 cho thấy với giá trị 
sig là 0,037 (nhỏ hơn alpha là 0,05) cho 
thấy có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm 
trung bình giữa lớp 5A và lớp 5B, trong 
đó điểm trung bình của lớp 5A cao hơn 
so với lớp 5B. Như vậy tác động thực 
nghiệm đã đem lại kết quả thể hiện ở sự 
khác biệt có ý nghĩa và điểm trung bình 
của lớp thực nghiệm cao hơn so với lớp 
đối chứng. 
3. Kết luận 
Như vậy, số liệu nghiên cứu đã 
chứng minh sự tác động thực nghiệm 
thông qua các dạng bài tập rèn luyện 
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 11 - 2018 ISSN 2354-1482 
17 
khả năng tư duy logic của học sinh đã 
nâng cao một mức tư duy logic cho các 
em thông qua sự khác biệt có ý nghĩa 
giữa 2 lần đo ở nhóm thực nghiệm. Bên 
cạnh đó sự chênh lệch điểm trung bình 
tư duy logic của học sinh lớp 3 cao hơn 
của học sinh lớp 5 cho thấy tác động 
thực nghiệm về phát triển tư duy logic 
với lớp 3 có hiệu quả hơn so với lớp 5. 
Nếu không có tác động thực nghiệm thì 
nhờ hoạt động học tập chỉ số tâm lý về 
tư duy logic của học sinh vẫn phát triển 
nhưng không nhiều. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Toán 3, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Sách giáo viên Toán 3, Nxb Giáo dục Việt 
Nam, Hà Nội 
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Toán 5, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Sách giáo viên Toán 5, Nxb Giáo dục Việt 
Nam, Hà Nội 
5. Nguyễn Áng (2013), Toán bồi dưỡng học sinh lớp 3, Nxb Giáo dục Việt Nam, 
Hà Nội 
6. Nguyễn Áng (2014), Toán bồi dưỡng học sinh lớp 5, Nxb Giáo dục Việt Nam, 
Hà Nội 
7. Nguyễn Đình Khuê (2014), Toán cơ bản và nâng cao lớp 5, tập 1+ 2, Nxb 
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 
8. Trần Ngọc Lan (2014), Toán cơ bản và nâng cao lớp 3, tập 1+ 2, Nxb Giáo 
dục Việt Nam, Hà Nội 
THE EXPERIMENTAL RESULTS IN IMPROVING 
THE PRIMARY STUDENTS’ THINKING ABILITY 
THROUGH THE SUBJECT EXCERCISES 
 ABSTRACT 
The paper presents the experimental results of the improvement on the 3rd and 
5th grade students' logical thinking through math exercises. The results showed that 
the exercises had the positive influence on the students' logical thinking ability. As a 
result, the students' logical thinking can be improved. The research results also 
proved that the experimental solutions for the 3rd grade students were more effective 
than those for the 5th grade students in the same affected way. 
Keywords: Experiment, logical thinking, primary school student 
(Received: 2/5/2018, Revised: 10/5/2018, Accepted for publication: 24/12/2018) 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_thuc_nghiem_nang_cao_kha_nang_tu_duy_cua_hoc_sinh_ti.pdf